Sách Khai Minh - Phụng Sự Nhân Sinh

Hữu và Hư vô: Một khảo sát hữu thể học hiện tượng học Jean-Paul Sartre

198.000₫ 248.000₫
Tình trạng: Còn 500 sản phẩm có sẵn.

ĐẶT TRƯỚC - PHÁT HÀNH THÁNG 7

Tác giả: ThS. Trần Thanh Phương

Hình thức: bìa mềm tay gấp, khổ 14x22cm

Số trang:

Đơn vị xuất bản: NXB Khoa học xã...

0971 998 312

 

Hữu và Hư vô

Một khảo sát hữu thể học hiện tượng học Jean-Paul Sartre

(Trần Thanh Phương)

 

LỜI NÓI ĐẦU

Jean-Paul Sartre (1905–1980) không chỉ là một gương mặt kiệt xuất của trí tuệ Pháp thế kỷ XX, mà còn là người định hình dòng chảy triết học phương Tây hiện đại. Di sản ông để lại không đơn thuần gắn liền với sự bùng nổ của chủ nghĩa hiện sinh. Điều quan trọng làm nên tầm vóc của Sartre chính là cách ông thổi một luồng sinh khí mới vào phương pháp hiện tượng học có từ thời Husserl, và mầm mống xa hơn bắt đầu từ Descartes. Thay vì sa đà vào những lý thuyết nhận thức luận trừu tượng, khô khan, Sartre đã hướng thẳng ống kính vào con người hiện thực, biến hiện tượng học thành một phương pháp nhân bản — một phương pháp vị nhân sinh và sống động.

Chính bước đi đột phá này đã khiến cho hiện tượng học thời kỳ sau Sartre trở thành chiếc kim chỉ nam cho nhiều ngành khoa học. Những kiến giải góc cạnh của ông về ý thức, về các dạng thức của Hữu hay hữu thể, cùng các chiều kích hiện sinh như tự do, trách nhiệm, tha nhân, xung đột hay ngụy tín… không chỉ khuấy động giới triết học, mà còn thấm sâu vào văn chương, nghệ thuật, tâm lý học, định hình nên tư duy chính trị và văn hóa của cả châu Âu hiện đại. Sức hút ấy không dừng lại ở thế kỷ trước mà vẫn đang tiếp tục gợi mở nhiều giá trị cho các nghiên cứu đương đại.

Cuốn sách có tên "Hữu và Hư vô: Một khảo sát hữu thể học hiện tượng học của Jean-Paul Sartre" ra đời nhằm soi rọi lại hành trình tư duy ấy, xuất phát từ một vài trăn trở sau đây:

Vấn đề con người luôn là trăn trở lớn nhất của triết học từ bao đời nay kể từ bước ngoặt Socrates (ông đã chuyển nền triết học lấy tự nhiên sang con người làm đối tượng thẩm tra). Qua lăng kính hiện tượng học được làm mới, Sartre đã kéo con người từ vị trí một "chủ thể siêu nghiệm" xa xôi, trừu tượng, mang bản chất cố định trong các sách vở kinh điển, trở thành một hữu thể sinh động. Con người trong cách tiếp cận của Sartre không có bản chất định sẵn; họ là một hữu thể đang sống, đang hành động và liên tục va đập với những hoàn cảnh cụ thể của cuộc đời. Khám phá lại góc nhìn này trong kiệt tác Hữu và Hư vô không chỉ làm phong phú thêm kho tàng lý luận phương Tây, mà còn giúp chúng ta định vị rõ ràng lối đi riêng, độc đáo của Sartre — một hướng đi đưa hữu thể học hòa quyện cùng tinh thần hiện sinh thế kỷ XX.

Khi nhìn lại lịch sử tư tưởng nước nhà giai đoạn 1954–1975, hiện tượng học và triết học hiện sinh đã từng có một thời kỳ bừng nổ tại miền Nam. Qua sách vở của các học giả như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, Phạm Công Thiện, Trần Thái Đỉnh, những khái niệm như "tự do lựa chọn", "dấn thân", "trách nhiệm" của Sartre đã chạm đúng vào tâm tư của thế hệ trí thức lúc bấy giờ. Giữa bối cảnh chiến tranh và thời cuộc biến động, tư tưởng của Sartre đã trở thành động lực thôi thúc họ suy tư, phản biện và dấn thân vào thực tiễn xã hội. Việc đào sâu vào phương pháp luận của Sartre chính là chìa khóa để chúng ta thấu hiểu ngọn nguồn sức mạnh tinh thần đó, từ đó có được cái nhìn khách quan, khoa học về một chương đặc biệt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam hiện đại, trong ấy thế giới quan của Sartre đóng vai trò then chốt.

Có một thực tế đáng suy ngẫm là các nghiên cứu về Jean-Paul Sartre tại Việt Nam lâu nay thường chỉ chú trọng vào các biểu hiện bề nổi của chủ nghĩa hiện sinh — người ta chú trọng khảo sát nỗi cô đơn, sự tự do hay tinh thần dấn thân — mà vô tình xem nhẹ cái nền móng hữu thể học (ontology/ontologie)[1] phía sau. Khi tách rời các luận đề hiện sinh khỏi phương pháp hiện tượng học mà Sartre đã dày công chọn lựa để lột tả chiều sâu của hữu thể người, các đánh giá dễ rơi vào lối suy diễn trừu tượng, mơ hồ. Hữu thể học hiện sinh của Sartre không phải là một khẩu hiệu thời thượng, nó là một công cụ tư duy sắc bén để bóc tách bản chất của sự hiện hữu. Khi đi vào nghiên cứu kiệt tác Hữu và Hư vô mà bỏ qua nền tảng phương pháp này thì chẳng khác nào leo cây từ ngọn.

Khi nhìn vào xã hội Việt Nam hôm nay, một xã hội đang vươn mình mạnh mẽ cùng dòng chảy công nghệ và kinh tế thị trường, bên cạnh những bước tiến vũ bão, con người hiện đại cũng đang phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tinh thần âm thầm như sự phai nhạt bản sắc cá nhân, cảm giác hoang mang vô định trước tương lai, và nỗi cô đơn bủa vây bởi các áp lực công nghệ. Chúng ta dễ bị rơi vào trạng thái đánh mất bản thân, bị biến thành cái người ta vô danh (das Man)[2], bị biến thành một mắt xích trong cỗ máy vận hành xã hội mà quên đi ý nghĩa tồn tại thực sự của mình. Chính trong bối cảnh này, phương pháp của Sartre trở nên thời sự hơn bao giờ hết. Những mô tả hiện tượng học của ông về cấu trúc nội tâm con người mang lại một bộ công cụ sắc bén giúp chúng ta lý giải các góc khuất của đời sống đương đại. Con người được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, nhưng cũng chính là thực thể dễ tổn thương nhất trước làn sóng công nghệ và thị trường. Cuốn sách này mong muốn mượn phương pháp và tư tưởng của Sartre như một tấm gương để mỗi người tự soi chiếu và định vị lại chính sự hiện hữu của mình.

Bằng việc đặt lại vấn đề một cách hệ thống, cuốn sách này chỉ là một nỗ lực bé nhỏ, với mong muốn đóng góp một vài góc nhìn khiêm tốn vào dòng chảy học thuật chung. Chúng ta biết rằng kiệt tác Hữu và Hư vô (L'Être et le Néant) được xuất bản năm 1943 vốn là một hành trình tư duy đầy thách thức với bất kỳ ai muốn tiếp cận Jean-Paul Sartre. Người viết cuốn sách này không có tham vọng giải mã toàn bộ kiệt tác của Sartre bởi lẽ người viết biết rằng bản thân không đủ năng lực, mà chỉ hy vọng phác thảo lại những đóng góp sáng tạo của Sartre đối với nền hữu thể học hiện tượng học. Đồng thời, người viết đã cố gắng hết sức có thể để đặt tư tưởng của ông trong mối tương quan, đối thoại với các trường phái lớn khác, bao gồm cả góc nhìn của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đây có thể xem là một lối nhỏ để mở rộng không gian đối thoại giữa triết học hiện sinh và chủ nghĩa Mác tại Việt Nam — một mảnh đất mà người viết tin rằng vẫn còn nhiều điều để suy ngẫm.

Qua “khảo cổ học” về cuộc đời của Sartre, chúng ta thấy rằng ông vốn có duyên nợ sâu sắc với văn chương. Việc làm sáng tỏ phương pháp của ông trong Hữu và Hư vô với hy vọng sẽ mang lại một vài đóng góp nhỏ cho các sáng tác và phê bình văn học; giúp chúng ta có thêm một công cụ để đào sâu hơn vào thế giới nội tâm, các cấu trúc tâm lý phức tạp và thân phận của con người trong văn chương Việt Nam đương đại. Suy cho cùng, nhân vật trong văn chương cũng chính là hình ảnh phản chiếu con người đời thực của chúng ta, do vậy, những con người ấy-nhân vật ấy không nên bị mổ xẻ như một cỗ máy dưới lăng kính khoa học và định kiến, mà nên nhìn con người trong tính chỉnh thể thịt xương bằng con mắt thấu cảm hiện tượng học hiện sinh.

Tiếp cận Hữu và Hư vô là một hành trình thách thức, bởi lẽ chúng ta phải đối diện với những phạm trù triết học gai góc và những tư tưởng khốc liệt trong đó. Cuốn sách này không hướng tới sự xúc cảm văn chương, vì đây là một nghiên cứu triết học, nó cũng không đóng vai trò như một bảng dẫn giáo trình. Thay vào đó, cuốn sách là những tìm tòi, ghi chép, những nỗ lực cá nhân nhằm bóc tách các lớp vỏ lý luận vô cùng sâu sắc của Sartre để lấy cho được cái lõi phương pháp luận hiện tượng học của ông. Trên hành trình ấy, người viết khó tránh khỏi những nhận định chủ quan về một đề tài triết học khó và những điểm gây tranh cãi khi chuyển ngữ các khái niệm. Dù vậy, người viết luôn mang trong mình một tinh thần dấn thân, một sự khảo sát nghiêm túc về một vấn đề triết học đầy thách thức. Hy vọng rằng, qua những trang viết này, lối vào triết lý của Jean-Paul Sartre sẽ trở nên dễ dàng hơn với những ai đang mang lòng sự ngưỡng mộ, tò mò lẫn những ưu tư về vị triết gia hiện sinh này.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 2026

Tác giả

 


[1] Hữu thể học (Ontologie/Ontology), còn được gọi là Bản thể luận, là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại, được hình thành từ sự kết hợp giữa ontos (nghĩa là "hữu thể", "cái đang là", phân từ hiện tại của động từ einai – tồn tại) và logos (nghĩa là "lời nói", "lý thuyết", hoặc "khoa học"). Theo nghĩa từ nguyên, đây là "khoa học về cái đang là". Trong lĩnh vực triết học truyền thống, hữu thể học chuyên sâu nghiên cứu về những thuộc tính phổ quát nhất của sự tồn tại và các phạm trù cơ bản của thực tại.

[2] Das Man (cái người ta) là một cấu trúc hữu thể học trọng tâm trong triết học của Heidegger, mô tả xu hướng tồn tại ẩn danh và sự đồng nhất hóa của Dasein. Nó biểu thị một dạng tồn tại không đích thực, trong đó cá nhân đánh mất bản thân mình vào những chuẩn mực xã hội áp đặt, nhằm né tránh việc đối diện với cái chết và tự do cá nhân. Đối với thuật ngữ das Man, bản dịch tiếng Anh của Macquarrie & Robinson thường dùng cụm từ "the 'they'". Tuy nhiên, trong các nghiên cứu triết học hiện tượng học, việc giữ nguyên thuật ngữ das Man là phổ biến, nhằm nhấn mạnh đây là một phạm trù hữu thể học (ontological category) chứ không phải một quan sát xã hội học thông thường. Để tìm hiểu thêm, xin tham khảo: Martin Heidegger, Sein und Zeit (Tübingen: Max Niemeyer Verlag, 1927), §27.

 

 

 

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1. CỘI NGUỒN CỦA PHƯƠNG PHÁP

1.1. NHỮNG KHÚC QUANH LỊCH SỬ VÀ HÀNH TRÌNH TƯ TƯỞNG CỦA JEAN-PAUL SARTRE

1.1.1. Nước Pháp giai đoạn 1939–1945

1.1.2. Sartre giữa lòng nước Pháp "chấn thương" và "rạn nứt"

1.1.3. "Khảo cổ học" tư tưởng của Jean-Paul Sartre

1.1.3.1. Phác thảo chân dung một trí thức dấn thân

1.1.3.2. Sự tiến hóa tư tưởng trước tác phẩm Hữu và Hư vô

1.1.3.3. Giới thiệu kiệt tác Hữu và Hư vô

1.2. HỆ THỐNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

1.2.1. Từ những cội nguồn sâu xa

1.2.1.1. Sự rạn nứt trong hệ hình khoa học phương Tây

1.2.1.2. Phát kiến Cogito của René Descartes

1.2.1.3. Hiện tượng học tinh thần của Georg Wilhelm Friedrich Hegel

1.2.2. Dòng chảy trực tiếp từ Edmund Husserl đến Martin Heidegger

1.2.2.1. Hiện tượng học của Husserl

1.2.2.2. Hữu thể học của Heidegger

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP HIỆN TƯỢNG HỌC CỦA JEAN-PAUL SARTRE: NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ VÀ GIỚI HẠN

2.1. CÁC CHIỀU KÍCH KHẢO SÁT CỦA PHƯƠNG PHÁP

2.1.1. Hiện tượng học về "ý thức"

2.1.2. Hiện tượng học về "Hữu"

2.1.3. Cấu trúc hiện sinh của đời sống thường nhật

2.1.4. Hiện tượng học về "thân xác" và "cái nhìn"

2.1.5. Phân tâm học hiện sinh

2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP

2.2.1. Một phương pháp sáng tạo

2.2.2. Một phương pháp vị nhân sinh

2.2.3. Một phương pháp mang tính thực tiễn và có xu hướng chính trị 89

2.3. GIÁ TRỊ, GIỚI HẠN CỦA PHƯƠNG PHÁP VÀ LỜI HỨA CHO MỘT NỀN ĐẠO ĐỨC HIỆN SINH

2.3.1. Giá trị của phương pháp

2.3.2. Giới hạn của phương pháp

2.3.3. Lời hứa cho một nền đạo đức mới

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

 

Bước 1: Truy cập website và lựa chọn sản phẩm cần mua để mua hàng

Bước 2: Click và sản phẩm muốn mua, màn hình hiển thị ra pop up với các lựa chọn sau

Nếu bạn muốn tiếp tục mua hàng: Bấm vào phần tiếp tục mua hàng để lựa chọn thêm sản phẩm vào giỏ hàng

Nếu bạn muốn xem giỏ hàng để cập nhật sản phẩm: Bấm vào xem giỏ hàng

Nếu bạn muốn đặt hàng và thanh toán cho sản phẩm này vui lòng bấm vào: Đặt hàng và thanh toán

Bước 3: Lựa chọn thông tin tài khoản thanh toán

Nếu bạn đã có tài khoản vui lòng nhập thông tin tên đăng nhập là email và mật khẩu vào mục đã có tài khoản trên hệ thống

Nếu bạn chưa có tài khoản và muốn đăng ký tài khoản vui lòng điền các thông tin cá nhân để tiếp tục đăng ký tài khoản. Khi có tài khoản bạn sẽ dễ dàng theo dõi được đơn hàng của mình

Nếu bạn muốn mua hàng mà không cần tài khoản vui lòng nhấp chuột vào mục đặt hàng không cần tài khoản

Bước 4: Điền các thông tin của bạn để nhận đơn hàng, lựa chọn hình thức thanh toán và vận chuyển cho đơn hàng của mình

Bước 5: Xem lại thông tin đặt hàng, điền chú thích và gửi đơn hàng

Sau khi nhận được đơn hàng bạn gửi chúng tôi sẽ liên hệ bằng cách gọi điện lại để xác nhận lại đơn hàng và địa chỉ của bạn.

Trân trọng cảm ơn.

zalo